Sau khi về nước đầu năm 1941, Người trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam qua các chặng đường kháng chiến chống thực dân Pháp, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất đất nước, cho đến khi Người qua đời năm 1969.
Dưới đây là 7 giai đoạn tiêu biểu (1941–1969), minh họa bằng ảnh tư liệu do nhà trường sưu tầm.
Về nước tại cột mốc 108 (tháng 1/1941); ở và chỉ đạo Tổng khởi nghĩa tại Lán Nà Nưa (tháng 8/1945); đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trên đường đi công tác từ Đèo Khế, Thái Nguyên sang Tuyên Quang; làm việc với Chính phủ kháng chiến Lào; thăm gia đình đồng bào dân tộc Dao tại xóm Đá Bàn, xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn.
Ra mặt trận cùng Bộ Chỉ huy trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Biên giới; tháng 6/1950 chủ trương mở chiến dịch lớn trên tuyến biên giới Việt – Trung; trực tiếp quan sát và chỉ đạo trận Đông Khê, mở màn Chiến dịch Biên giới.
Cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở An toàn khu Định Hóa; lên đường ra mặt trận cùng Bộ Chỉ huy chiến dịch Biên giới thu đông; cùng các đồng chí sống tại Chiến khu Việt Bắc, tăng gia sản xuất.
Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ trì của Người, quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ; Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng (7/5/1954), "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
Cùng nông dân chống hạn (1958); chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ tại Phủ Chủ tịch (2/4/1960); bắt nhịp bài ca "Kết đoàn" tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960).
Tiếp đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam lần đầu ra thăm miền Bắc (20/10/1962); chủ trì Hội nghị Chính trị đặc biệt tại Hội trường Ba Đình (27/3/1964); trò chuyện với đoàn đại biểu Anh hùng, Chiến sĩ thi đua miền Nam (11/1965); Người viết Di chúc và qua đời ngày 2/9/1969.